Author Archives: moitruongtnt

Thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải: 9 trường hợp được miễn

   Tại dự thảo Nghị định quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, Bộ Tài chính đề xuất quy định về các trường hợp miễn thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Bộ Tài chính cho biết, tại Điều 5 Nghị định số 53/2020/NĐ-CP quy định phí bảo vệ môi trường (BVMT) đối với nước thải quy định miễn phí BVMT đối với: Nước xả ra từ các nhà máy thủy điện; nước biển dùng vào sản xuất muối xả ra; nước thải sinh hoạt của: Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở các xã, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở các phường, thị trấn chưa có hệ thống cấp nước sạch, hộ gia đình, cá nhân không kinh doanh ở các phường, thị trấn đã có hệ thống cấp nước sạch tự khai thác nước sử dụng; nước làm mát (theo quy định pháp luật về BVMT) không trực tiếp tiếp xúc với các chất gây ô nhiễm, có đường thoát riêng; nước thải từ nước mưa tự nhiên chảy tràn; nước thải từ các phương tiện đánh bắt thủy sản của ngư dân và nước thải của các hệ thống xử lý nước thải tập trung khu đô thị theo quy định pháp luật về thoát nước và xử lý nước thải đã xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường theo quy định trước khi thải vào nguồn tiếp nhận.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

   Về miễn phí đối với nước xả ra từ các nhà máy thủy điện, theo Bộ Tài chính, thực tế cho thấy, nước xả từ nhà máy thủy điện gồm nhiều nguồn như: Nước qua tua bin chạy máy phát điện; nước thải sinh hoạt; nước rỉ ra từ phòng chứa máy móc thiết bị có nhiễm dầu (thường được quản lý theo quy định về chất thải nguy hại)… Do đó, để làm rõ loại nước thải nào từ các nhà máy thủy điện được miễn phí, Bộ Tài chính đề xuất sửa quy định này tại dự thảo Nghị định như sau: “Nước xả ra từ các nhà máy (đập, hồ) thủy điện (không bao gồm nước thải từ các hoạt động cơ khí, kỹ thuật, tổ chức, vận hành khác của nhà máy có tiếp xúc với các chất gây ô nhiễm).”

   Về miễn phí đối với nước thải sinh hoạt của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở các xã và địa bàn chưa có hệ thống cung cấp nước sạch, theo Bộ Tài chính, việc miễn phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt của tất cả các xã, nhất là xã giáp ranh với phường, thị trấn, thành phố (cũ)… là chưa phù hợp trong giai đoạn hiện nay, vì điều kiện kinh tế – xã hội tại các địa bàn này hiện đã thay đổi và phát triển hơn so với giai đoạn trước đây. Hiện Đảng và Nhà nước đang thực hiện việc tổ chức lại bộ máy nhà nước ở địa phương theo mô hình 02 cấp đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2025, (cụ thể, cả nước chỉ còn có 687 phường, 2.621 xã và 13 đặc khu, tổng cộng là 3.321 đơn vị hành chính cấp xã) dẫn đến địa giới hành chính cấp này được mở rộng hơn nhiều so với trước đây.

   Tại khoản 1 Điều 10 Luật Phí và lệ phí quy định các đối tượng được miễn, giảm phí bao gồm: Hộ nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn và một số đối tượng đặc biệt theo quy định của pháp luật.

   Tại Nghị định số 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư, trong đó có ban hành Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn bao phủ ở cấp xã được hưởng ưu đãi về đầu tư (ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu…).

   Tại Quyết định số 33/2020/QĐ-TTg ngày 12/11/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo trình độ phát triển, theo đó, “người cư trú tại các địa bàn (thôn) đặc biệt khó khăn” được hưởng chế độ ưu đãi của nhà nước.

   Vì vậy, để phù hợp với tình hình thực tế và quy định của Luật Phí và lệ phí nêu trên, Bộ Tài chính đề xuất sửa lại quy định miễn phí nước thải sinh hoạt của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở các xã và địa bàn chưa có hệ thống cung cấp nước sạch theo hướng: Miễn phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở địa bàn xã điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật đầu tư và tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở địa bàn chưa có hệ thống cung cấp nước sạch.

   Về miễn phí đối với nước làm mát
   Căn cứ quy định pháp luật về BVMT trước đây (trước Luật BVMT 2020), Nghị định 53/2020/NĐ-CP quy định: “Nước làm mát (theo quy định pháp luật về BVMT) không trực tiếp tiếp xúc với các chất gây ô nhiễm, có đường thoát riêng.”

   Tại Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật BVMT năm 2014 quy định: “Nước làm mát là nước phục vụ mục đích giải nhiệt cho thiết bị, máy móc trong quá trình sản xuất không tiếp xúc trực tiếp với nguyên vật liệu, nhiên liệu, hóa chất sử dụng trong các công đoạn sản xuất, kinh doanh, dịch vụ”.

   Tại Nghị định 08 được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 05 quy định: “Nước trao đổi nhiệt là nước phục vụ mục đích giải nhiệt (nước làm mát) hoặc gia nhiệt cho thiết bị, máy móc trong quá trình sản xuất, không tiếp xúc trực tiếp với nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, hóa chất sử dụng trong các công đoạn sản xuất”.

   Bên cạnh đó, thời gian qua, một số nhà máy nhiệt điện có quy mô sản xuất lớn đã sử dụng nước trao đổi nhiệt (nước làm mát) để tái sử dụng trong việc xử lý khí thải, tuy nhiên chưa có đường thoát riêng, dẫn tới nước làm mát còn lẫn với nước thải trước khi xả ra môi trường. Việc này dẫn tới vướng mắc trong việc xác định khối lượng nước thải để tính phí. Do nước làm mát được lấy từ nguồn nước mặt tự nhiên thường có hàm lượng thông số ô nhiễm nhất định khi sử dụng để xử lý khí thải mà vẫn tính cả hàm lượng này thì tạo gánh nặng cho nhà máy.

   Vì vậy, để đồng bộ với quy định của pháp luật về BVMT, Bộ Tài chính đề xuất quy định tại dự thảo Nghị định theo hướng: Nước trao đổi nhiệt (nước làm mát) theo quy định pháp luật về BVMT.

   Về miễn phí đối với nước thải của hệ thống xử lý nước thải tập trung khu đô thị đã xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường, theo Bộ Tài chính, tại Luật BVMT (khoản 2 Điều 6) đã có quy định bắt buộc chủ cơ sở xả nước thải phải xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường trước khi xả thải. Trường hợp nước thải không được xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu mà xả ra môi trường (thuộc hành vi bị cấm) sẽ bị xử lý vi phạm về BVMT.

   Như vậy, trong trường hợp này, Hệ thống xử lý nước thải tập trung khu đô thị đương nhiên có trách nhiệm xử lý nước thải đạt chuẩn theo quy định, chứ không phải xử lý đạt chuẩn để được miễn phí BVMT đối với nước thải.

   Trên thực tế, hệ thống thoát nước và xử lý nước thải tập trung tại các khu đô thị do các tỉnh/thành phố là chủ đầu tư từ nguồn ngân sách hoặc các đơn vị thoát nước địa phương được giao thực hiện dự án đầu tư từ nguồn vốn huy động ngoài ngân sách hoặc hỗn hợp (vay trong nước hoặc nước ngoài từ các tổ chức tài chính quốc tế) không thu hoặc có thu tiền theo cơ chế giá dịch vụ do UBND cấp tỉnh quyết định hoặc phê duyệt mức giá theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về giá dịch vụ thoát nước. Trường hợp chủ Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải khu đô thị chưa thực hiện thu tiền dịch vụ thoát nước thì các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân xả thải vào hệ thống này vẫn nộp phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt trên hóa đơn tiền nước sạch hàng tháng.

   Trường hợp chủ Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải khu đô thị đang thu tiền dịch vụ thoát nước thì các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân xả thải vào hệ thống nộp khoản tiền dịch vụ này trên hóa đơn tiền nước sạch hàng tháng do Công ty cấp nước thu (chỉ khác nhau về tên gọi của khoản thu).

   Như vậy, để phù hợp với pháp luật BVMT và tránh thu 02 lần, Bộ Tài chính đề xuất sửa lại quy định miễn phí đối với nước thải của Hệ thống xử lý nước thải tập trung khu đô thị theo hướng: Bỏ quy định phải xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường tại dự thảo Nghị định. Đồng thời bổ sung đối tượng được miễn phí là nước thải của Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải (sinh hoạt) của các khu chung cư cao tầng, cụm chung cư, khu dân cư tập trung (khu đô thị mới)… là hạng mục đầu tư bắt buộc theo quy định của Luật BVMT do chủ đầu tư các dự án này thực hiện để đảm bảo đồng bộ, tránh phát sinh vướng mắc.

   Đối với nước thải của cơ sở khai thác khoáng sản

   Hiện nay, ngoài loại hình khai thác cát, sỏi lòng sông, hoạt động khai thác khoáng sản thường diễn ra trên bề mặt địa lý tự nhiên (khai thác lộ thiên) hoặc dưới lòng đất (khai thác hầm lò), chủ yếu phát sinh nước mưa tự nhiên chảy tràn, loại nước thải này phải được thu gom và thoát riêng theo quy định của pháp luật BVMT, Nghị định 53 cũng đang quy định miễn thu phí với đối tượng nước mưa chảy tràn. Các mỏ khoáng sản phổ biến phân bổ ở khu vực đồi núi, khu vực xa trung tâm đô thị, khu dân cư.

   Các doanh nghiệp khai thác khoáng sản hiện đang phải nộp phí BVMT đối với khai thác khoáng sản (khoản phí này cũng có tính đến yếu tố nước thải do khai thác khoáng sản gây ra (nếu có)). Đối với hoạt động khai thác khoáng sản như: cát, sỏi, cuội, sạn… có đặc thù diễn ra ở sông, suối, trên biển… thì không thể xác định được lưu lượng nước thải do yếu tố hòa lẫn trong môi trường nước tự nhiên.

   Vì vậy, để tránh trường hợp cùng một hoạt động có tác động đến môi trường nhưng phải chịu đồng thời 02 khoản phí (phí BVMT đối với nước thải và phí BVMT đối với khai thác khoáng sản), Bộ Tài chính đề xuất bổ sung quy định tại dự thảo Nghị định theo hướng miễn thu phí đối với “Nước thải từ hoạt động khai thác khoáng sản (trừ cơ sở sản xuất, chế biến khoáng sản).”

   Đối với nước thải được tái sử dụng
   Thực tế, một số hoạt động sản xuất, chế biến như: sản xuất hóa chất, phân bón, hoạt động chăn nuôi, hoạt động khác có nước thải hữu ích hoặc nước thải đã được thu gom, xử lý đạt Quy chuẩn về môi trường để sử dụng trong nông nghiệp, tưới cây xanh khu đô thị, rửa, vệ sinh đường, khuôn viên. Tuy nhiên, tại Nghị định 53/2020/NĐ-CP chưa quy định miễn thu phí, trong khi pháp luật về BVMT có quy định khuyến khích tái sử dụng loại nước thải này để tiết kiệm và sử dụng tài nguyên nước hiệu quả, hạn chế tác động xấu đến môi trường (theo mô hình kinh tế tuần hoàn). Cụ thể như:

   Tại khoản 3 Điều 47 Nghị định 08/2022/NĐ-CP quy định: Khuyến khích việc tái sử dụng chất thải, trong đó có nước thải từ hoạt động sản xuất, chế biến, áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng, cộng sinh công nghiệp và kinh tế tuần hoàn.

   Tại khoản 3 Điều 74 Nghị định 08/2022/NĐ-CP quy định: Nước thải được tái sử dụng khi đáp ứng yêu cầu về BVMT và đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn chuyên ngành phù hợp với mục đích sử dụng nước. Nước thải khi chuyển giao để tái sử dụng thì phải đáp ứng yêu cầu tại khoản 4 Điều này. Trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc quy định, hướng dẫn về tái sử dụng nước thải cụ thể như sau: …

   Căn cứ quy định nêu trên thì nước thải từ hoạt động sản xuất, chế biến được tái sử dụng phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành và cần phải khuyến khích doanh nghiệp tích cực sử dụng nước thải tuần hoàn và tái sử dụng, thúc đẩy phát triển mô hình kinh tế xanh, sử dụng tài nguyên nước tiết kiệm, hiệu quả. Do đó, Bộ Tài chính trình Chính phủ bổ sung quy định tại dự thảo Nghị định theo hướng miễn thu phí đối với “Nước thải từ hoạt động sản xuất, chế biến được tái sử dụng theo quy định của pháp luật về môi trường.”

   9 trường hợp miễn thu phí
   Tại dự thảo, Bộ Tài chính đề xuất miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải trong các trường hợp sau:

  • 1. Nước xả ra từ các nhà máy (đập, hồ) thủy điện (không bao gồm nước thải từ các hoạt động cơ khí, kỹ thuật, tổ chức, vận hành khác của nhà máy có tiếp xúc với các chất gây ô nhiễm).
  • 2. Nước biển dùng vào sản xuất muối xả ra.
  • 3. Nước thải sinh hoạt của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở địa bàn xã có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật đầu tư; nước thải của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở địa bàn chưa có hệ thống cung cấp nước sạch hoặc tự khai thác nước để sử dụng.
  • 4. Nước trao đổi nhiệt (nước làm mát) theo quy định pháp luật về bảo vệ môi trường.
  • 5. Nước mưa tự nhiên chảy tràn.
  • 6. Nước thải từ các phương tiện đánh bắt thủy sản của ngư dân.
  • 7. Nước thải của các hệ thống xử lý nước thải tập trung khu đô thị theo quy định pháp luật về thoát nước và xử lý nước thải và nước thải của hệ thống thoát nước và xử lý nước thải (sinh hoạt) của các khu chung cư cao tầng, cụm chung cư, khu dân cư tập trung (khu đô thị mới) theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
  • 8. Nước thải từ hoạt động khai thác khoáng sản (trừ cơ sở sản xuất, chế biến khoáng sản).
  • 9. Nước thải từ hoạt động sản xuất, chế biến được tái sử dụng theo quy định của pháp luật về môi trường.

 

 

Nguồn: baochinhphu.vn/9-truong-hop-mien-thu-phi-bao-ve-moi-truong-doi-voi-nuoc-thai-102250807171935982.htm

Sơn La: Khánh thành Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải 932,4 tỉ đồng

   Sáng 19.8, tỉnh Sơn La đã tổ chức lễ khánh thành Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố Sơn La. Dự án Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố Sơn La (nay là các phường Tô Hiệu, Chiềng Sinh, Chiềng Cơi, Chiềng An) do UBND tỉnh Sơn La quyết định đầu tư, sử dụng nguồn vốn ODA của Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức và Thụy Sĩ.

   Công trình có tổng mức đầu tư 932,4 tỉ đồng, được triển khai trong giai đoạn 2012 – 2025, với thời gian thực hiện đến nay là gần 13 năm.

Hệ thống xử lý nước thải thành phố Sơn La

Hệ thống xử lý nước thải thành phố Sơn La

   Dự án được UBND tỉnh Sơn La giao cho Ban quản lý các dự án ODA tỉnh làm chủ đầu tư. Công trình đã được các nhà tài trợ đánh giá là tiêu biểu về chất lượng, tiến độ, đồng thời là một trong bốn nhà máy xử lý nước thải áp dụng công nghệ xử lý tiên tiến nhất hiện nay của cả nước.

   Phát biểu tại buổi lễ, ông Nguyễn Đình Việt – Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La cho biết, việc hoàn thành và đưa công trình Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải sinh hoạt thành phố Sơn La vào hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển bền vững và môi trường sống của người dân.

Vận hành trạm xử lý nước thải tp Sơn La

Vận hành trạm xử lý nước thải tp Sơn La

   Công trình được kỳ vọng sẽ mang lại những lợi ích thiết thực và lâu dài. Đặc biệt là việc giảm thiểu tình trạng ngập úng, xử lý hiệu quả nước thải đô thị, đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường. “Đây cũng là tiền đề quan trọng để các phường khu vực suối Nặm La của tỉnh Sơn La phát triển theo hướng nhanh, xanh và bền vững, gắn với cam kết về bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, với mục tiêu cao nhất là nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân” – Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La Nguyễn Đình Việt khẳng định.

   Để công trình hoạt động hiệu quả, Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La đề nghị Ban quản lý các dự án ODA tập trung vận hành công trình theo đúng phương án, quy trình được phê duyệt, bảo đảm chất lượng, tiến độ như đã cam kết, tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

   Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố Sơn La là 1 trong số 250 công trình, dự án trên cả nước được tổ chức lễ khánh thành, khởi công chào mừng kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19.8.1945 – 19.8.2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2.9.1945 – 2.9.2025).

 

Nguồn: laodong.vn/xa-hoi/khanh-thanh-he-thong-thoat-nuoc-va-xu-ly-nuoc-thai-9324-ti-dong-o-son-la-1559742.ldo

Khánh Hoà: Thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, khí thải trên địa bàn tỉnh

   UBND tỉnh Khánh Hòa vừa có văn bản giao Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN-MT), UBND các xã, phường, đặc khu triển khai thực hiện thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, khí thải trên địa bàn tỉnh. Theo đó, UBND tỉnh giao Sở NN-MT tổ chức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp của tất cả các cơ sở thuộc đối tượng chịu phí có giấy phép môi trường được cơ quan có thẩm quyền cấp trung ương và cấp tỉnh cấp phép; tổ chức thu phí bảo vệ môi trường đối với khí thải của cơ sở thuộc đối tượng chịu phí có giấy phép môi trường, trong đó có nội dung cấp phép về xả khí thải được cơ quan có thẩm quyền cấp trung ương và cấp tỉnh cấp phép.

cơ sở chế biến da bò xả nước thải ra sông

cơ sở chế biến da bò xả nước thải ra sông

   Sở NN-MT khẩn trương rà soát tất cả các dự án, cơ sở đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường chi tiết và văn bản xác nhận đề án bảo vệ môi trường đơn giản, bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, cam kết bảo vệ môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường… theo quy định hiện nay không thuộc đối tượng cấp giấy phép môi trường mà thuộc đối tượng đăng ký môi trường và có văn bản hướng dẫn các dự án, cơ sở thực hiện đăng ký môi trường, chuyển thông tin cho UBND cấp xã thực hiện thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo quy định, hoàn thành trước ngày 11-8; chịu trách nhiệm rà soát, báo cáo, tham mưu UBND tỉnh đề xuất việc sửa đổi, bổ sung về mức thu, quản lý, sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, khí thải (nếu có), gửi về Bộ NN-MT để sửa đổi, bổ sung văn bản thu phí cho phù hợp với tình hình thực tiễn…

   UBND các xã, phường, đặc khu chỉ đạo cơ quan chuyên môn rà soát đối tượng chịu phí và tổ chức thu phí bảo vệ môi trường nước thải công nghiệp đối với tất cả cơ sở trên địa bàn xã thuộc đối tượng chịu phí có hồ sơ môi trường được cơ quan có thẩm quyền cấp huyện trước đây phê duyệt và các đối tượng chịu phí được Chủ tịch UBND cấp xã tiếp nhận đăng ký môi trường; thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt của tổ chức, hộ kinh doanh tại đơn vị hành chính cấp xã sau sắp xếp; chỉ đạo cơ quan chuyên môn rà soát đối tượng chịu phí và tổ chức thu phí bảo vệ môi trường đối với khí thải của cơ sở thuộc đối tượng chịu phí có giấy phép môi trường, trong đó, có nội dung cấp phép về xả khí thải được cơ quan có thẩm quyền cấp huyện trước đây phê duyệt; hằng năm lập dự toán, quyết toán thu, chi phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, khí thải trên địa bàn quản lý theo quy định pháp luật.

 

Nguồn: baokhanhhoa.vn/xa-hoi/moi-truong-do-thi/202507/thu-phi-bao-ve-moi-truong-doi-voi-nuoc-thai-khi-thai-tren-dia-ban-tinh-khanh-hoa-7414541/

Bãi biển Nhật Lệ: Cần khắc phục tình trạng nước thải bốc mùi chảy ra biển

   Thời gian gần đây, người dân và một số khách du lịch phản ánh về tình trạng ô nhiễm cảnh quan môi trường ở khu vực bãi biển Nhật Lệ (thuộc phường Đồng Hới) do nước thải chưa qua xử lý chảy trực tiếp ra biển. Việc này gây ảnh hưởng đến ngành du lịch biển và làm mất đi hình ảnh Đồng Hới xanh – sạch – đẹp trong lòng du khách. Cụ thể, khu vực người dân phản ánh là bờ kè biển ở đường Trương Pháp (đối diện khách sạn Poseido) – nơi tập trung nhiều khách sạn, nhà hàng, homestay, cách bãi tắm trung tâm biển Nhật Lệ khoảng 700-800m.

   Đây là nơi thường xuyên có du khách và người dân đến tắm biển. Theo quan sát của phóng viên, tại đây, xuất hiện dòng nước thải đen ngòm, bốc mùi hôi thối chảy ra biển. Dòng xả này gây ô nhiễm môi trường cả một đoạn bãi biển, gây phản cảm đối với du khách cũng như các hộ kinh doanh xung quanh. Theo một số người dân, tình trạng này xuất hiện cả thời gian dài nhưng chưa có đơn vị nào vào cuộc xử lý.

Dòng nước đen chảy ra biển Nhật Lệ

Dòng nước đen chảy ra biển Nhật Lệ

   Đáng nói, vào thời điểm những ngày nắng nóng, dù ở cách xa vị trí dòng nước thải tầm 40-50m nhưng vẫn cảm nhận được mùi hôi thối. Nhiều đoàn khách du lịch khi đến địa điểm này muốn dừng lại chụp vài kiểu ảnh lưu niệm cũng đành nhanh chân rảo bước đến nơi khác. Ông Trần Minh Chiến, chủ homestay BERMUDA ở đường Trương Pháp, phường Đồng Hới bức xúc cho biết: “Cuối năm 2024, khi kè biển bị vỡ, nước thải bắt đầu rò rỉ chảy ra biển với màu đen ngòm, bốc mùi hôi thối. Các hộ kinh doanh ở gần phải huy động bưng bít đường chảy nhưng được vài hôm thì “đâu lại vào đấy”. Đặc biệt, trong những tuần gần đây, nhiều khách du lịch đã đặt phòng nhưng khi đến thấy thực tế cảnh quan và ô nhiễm không khí nên trả phòng để đi nơi khác…”.

   “Tôi đi qua khu vực bãi biển này, mùi hôi thối xộc lên, không chịu được. Cần có biện pháp để bảo đảm môi trường trong lành cho người dân cũng như khách du lịch khi ra biển”, bà Hoàng Thị Nga ở xã Bố Trạch khi vào biển Nhật Lệ chơi cùng gia đình cho hay. Là khách du lịch ở Hà Nội từng đến Đồng Hới nhiều lần, ông Đỗ Văn Toan chia sẻ: “Lần này, chúng tôi thuê khách sạn ở khu vực này và ra biển thấy bờ kè sạt lở nhếch nhác, nước thải ô nhiễm có mùi hôi nên không dám xuống tắm biển nữa…”.

   Dòng nước thải chảy xuống biển có màu nâu đen. Nơi nước thải đọng lại thì bốc mùi hôi thối rất nặng, đất đai xung quanh cũng bị đổi màu và có mùi. Hiện, khu vực phía trên vị trí của dòng chảy có 1 cái cống cũng mùi hôi khủng khiếp. Toàn bộ khu vực cống đã được các hộ dân dùng bạt ni lon phủ kín nhằm hạn chế mùi hôi phát tán và gia cố bằng các cọc.

   Qua trao đổi, ông Trần Minh Chiến cho rằng: “Tình trạng ô nhiễm này xảy ra đã mấy tháng nay, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh, buôn bán cũng như lưu trú của các cơ sở nơi đây. Vì vậy, tôi mong muốn cơ quan chức năng xem xét để khắc phục tình trạng trên để trả lại cảnh quan môi trường sạch đẹp cho biển Nhật Lệ”. Theo bà Đoàn Thị Hồng Phương, Phó Giám đốc Ban Quản lý Dịch vụ công ích Đồng Hới, hiện nay, tại bãi biển Nhật Lệ 2, đơn vị được giao quản lý khai thác phần bãi cát dọc bãi biển.

   Còn công trình kè chắn sóng tại bãi biển Nhật Lệ 2 do đơn vị khác quản lý và đang trong quá trình thi công thì bị ảnh hưởng của bão năm 2020 làm hư hỏng nặng. Công trình với thiết kế có các cống thoát nước mưa. Tuy nhiên, một số hộ kinh doanh dịch vụ đã tự ý đấu nối hệ thống nước thải sinh hoạt vào hệ thống nước mưa của công trình. Vì vậy, tại cống thoát nước mưa, nước thải và rác bị ùn ứ, bốc mùi hôi thối và chảy trực tiếp ra bãi biển, gây ô nhiễm môi trường, mỹ quan và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng bãi biển Nhật Lệ 2. “Thời gian qua, lượng khách đến nghỉ ngơi, tắm biển và thưởng thức ẩm thực biển tại khu vực này rất đông. Nhằm bảo đảm mỹ quan và chất lượng phục vụ, Ban Quản lý Dịch vụ công ích Đồng Hới đã nhiều lần phản ánh, kiến nghị các đơn vị liên quan khắc phục, sửa chữa cũng như báo cáo thực trạng với chính quyền địa phương, song đến thời điểm hiện tại, tình trạng trên vẫn chưa được giải quyết”, bà Đoàn Thị Hồng Phương thông tin thêm.

   Thực trạng trên cho thấy việc đầu tư, nâng cấp hệ thống thoát nước, xử lý ô nhiễm nước thải sinh hoạt chảy ra biển Nhật Lệ là hết sức cần thiết. Do đó, chính quyền địa phương cùng các sở, ngành liên quan cần xem xét và có phương án giải quyết; kịp thời thu gom và xử lý nước thải để bảo đảm môi trường dân sinh, điểm kinh doanh du lịch cũng như bảo vệ môi trường biển.

 

Nguồn: baoquangtri.vn/can-khac-phuc-tinh-trang-nuoc-thai-boc-mui-chay-ra-bien-nhat-le-196335.htm

Nghiên cứu giải bài toán ô nhiễm ở các trang trại chăn nuôi

   Từ nước thải chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường, các nhà khoa học đã nghiên cứu công nghệ biến chúng thành phân bón nhả chậm giàu dinh dưỡng cho cây trồng thay thế dần phân NPK. Chăn nuôi lợn là ngành sản xuất nông nghiệp chủ lực tại Việt Nam, nhưng cũng là nguồn phát sinh chất thải khổng lồ.

Trang trại chăn nuôi heo tại Gia Lai

Trang trại chăn nuôi lợn

   Trung bình, mỗi con lợn thải ra 0,5 – 3kg phân, cùng 20 – 25 lít nước thải một ngày. Với quy mô hàng nghìn con tại các trang trại, tổng lượng chất thải lên tới hàng chục nghìn lít/ngày – gây áp lực lớn lên môi trường nếu không được xử lý triệt để. Để giải quyết bài toán ô nhiễm môi trường của các trang trại nuôi lợn, giải pháp công nghệ khí sinh học (biogas) đã được áp dụng phổ biến để xử lý chất thải chăn nuôi lợn. Công trình hầm biogas có thể được xây bằng gạch, composite đúc sẵn hoặc làm bằng bạt chống thấm. Một số trang trại có dùng thiết bị tách ép phân để thu hồi chất thải rắn, trước khi đưa nước thải vào hầm biogas.

   Hạn chế lớn nhất của công nghệ khí sinh học là chỉ xử lý được các thành phần hữu cơ thông qua cơ chế phân hủy kỵ khí của vi sinh vật để thu hồi khí CH4 phục vụ cho các mục đích đun nấu, phát điện hoặc thắp sáng. Toàn bộ các chất dinh dưỡng NPK hầu như không xử lý được, đây chính là thủ phạm gây ra tình trạng phú dưỡng, ô nhiễm các nguồn nước mặt, nước dưới đất và không khí.

   Trong nghiên cứu công nghệ thu hồi nitơ và phốt pho trong nước thải trang trại chăn nuôi lợn bằng kỹ thuật tạo hạt struvite tầng sôi để sản xuất phân hữu cơ của nhóm, phân bón struvite được tạo ra bằng cách thu hồi các hạt struvite (MgNH₄PO₄) trong quá trình xử lý nước thải chăn nuôi lợn, nhờ vào công nghệ kết tinh tạo hạt tầng sôi (Fluidized Bed Homogeneous Crystallization – FBHC).

   Khi các ion magiê (Mg²⁺), amoni (NH₄⁺) và phốt phát (PO₄³⁻) trong nước thải gặp nhau ở khoang phản ứng, chúng sẽ “kết dính” thành tinh thể struvite – một dạng phân bón khoáng nhả chậm, rất tốt cho cây vì cung cấp dinh dưỡng từ từ.

   Theo nhóm nghiên cứu, công nghệ FBHC khắc phục được nhược điểm của công nghệ kết tinh tầng sôi (FBC) truyền thống, vốn phải dùng các hạt mầm không đồng nhất như SiO₂ hay Al₂O₃ để các ion bám vào, khiến phân bón struvite thu được thường bị lẫn tạp chất, độ ẩm cao, chất lượng thấp và tạo ra nhiều bùn thải cần xử lý tốn kém.

   Công nghệ FBHC tạo môi trường tiếp xúc tốt giữa chất lỏng và các hạt rắn trong tầng sôi, đồng thời kiểm soát chặt chẽ điều kiện siêu bão hòa, cho phép các hạt struvite kết tinh có độ tinh khiết cao, độ ẩm thấp (dưới 5%), và bùn thải được chuyển hóa hoàn toàn thành dạng rắn, dễ tách riêng. Nhóm nghiên cứu cho biết, công nghệ này tương đối dễ vận hành, không cần xây dựng bể xử lý bùn riêng, tiết kiệm được diện tích lắp đặt và chi phí xử lý chất thải.

   Từ các mô-đun thiết bị thiết kế trong điều kiện phòng thí nghiệm tại tầng 3, Tòa nhà HT1 của Đại học Quốc gia Hà Nội tại cơ sở Hòa Lạc, đến nay nhóm nghiên cứu mạnh đã hoàn thiện và làm chủ công nghệ FBHC ứng dụng vào xử lý nước thải chăn nuôi lợn của các trang trại tập trung để thu hồi NPK làm phân bón khoáng nhả chậm (struvite) với chất lượng cao. Nhóm nghiên cứu đã thiết kế, chế tạo, lắp đặt và vận hành hệ thống thiết bị ứng dụng công nghệ FBHC, có công suất 5 m3/ngày đêm cho một trang trại chăn nuôi lợn của hộ gia đình tại Sơn Tây với quy mô nuôi 300 con lợn thịt. Kết quả vận hành thử nghiệm hệ thống thiết bị xử lý cho kết quả tốt.

   Hiện, nhóm đang nghiên cứu ứng dụng công nghệ FBHC vào xử lý nhiều loại nước thải công nghiệp khác nhau (công nghiệp xi mạ, công nghiệp sản xuất gang thép…) để thu hồi và các kim loại có giá trị (Al, Ni, B, Fe, F, Zn, Cu) hoặc các loại nước thải chứa axit vô cơ như axit phốt pho và axit boric.

 

Nguồn: giaoducthoidai.vn/giai-bai-toan-o-nhiem-o-cac-trang-trai-chan-nuoi-post741064.html

Trung Quốc: đã tạo ra đường trắng từ loại khí thải không ngờ tới

   Các nhà khoa học ở Trung Quốc đã biến CO₂ thành đường, tạo ra bước đột phá đưa khí thải thành thực phẩm trong phòng thí nghiệm. Một nhóm nghiên cứu tại Viện Công nghệ Sinh học Công nghiệp Thiên Tân, trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (CAS), đã công bố một thành công quan trọng: Tổng hợp được đường trắng (sucrose) từ methanol – hợp chất có thể thu được từ khí CO₂.

   Kết quả này không chỉ mở ra hướng đi mới trong sản xuất thực phẩm xanh mà còn góp phần giải bài toán bảo vệ môi trường, khủng hoảng khí hậu và an ninh lương thực toàn cầu.

Biến CO2 thằng đường trong phòng thí nghiệm

Biến CO2 thằng đường trong phòng thí nghiệm

   Thay vì trồng mía hay củ cải đường, hai loại cây trồng tiêu tốn nhiều đất đai và nước, nhóm nghiên cứu đã phát triển hệ thống biến đổi sinh học ngoài cơ thể (in vitro biotransformation – ivBT) có khả năng tổng hợp sucrose ngay trong phòng thí nghiệm. Đặc biệt, nền tảng này còn có thể điều chỉnh để tạo ra nhiều carbohydrate phức tạp khác như fructose, amylose, amylopectin và tinh bột – những chất có vai trò quan trọng trong thực phẩm và dược phẩm.

   Theo công bố trên tạp chí Science Bulletin (tháng 5/2025), quy trình này đạt hiệu suất chuyển hóa methanol thành sucrose lên tới 86%, tiêu tốn ít năng lượng và có thể mở rộng để sản xuất quy mô lớn trong tương lai.

   Được biết, methanol – nguyên liệu đầu vào của quy trình – có thể được tổng hợp từ CO₂ thông qua quá trình hydro hóa. Công nghệ này đã được chứng minh hiệu quả bởi một nhóm khác thuộc Viện Vật lý Hóa học Đại Liên (cũng trực thuộc CAS) từ năm 2021, giúp biến CO₂ – một khí nhà kính – thành nguồn nguyên liệu thô bền vững. Ngoài ra, methanol cũng có thể được thu từ chất thải công nghiệp, góp phần tái sử dụng tài nguyên.

   Với hệ thống ivBT, methanol không chỉ là sản phẩm trung gian mà còn trở thành “nguồn carbon xanh” để tổng hợp sucrose, các loại tinh bột và đường oligosaccharide như cellobiose – những hợp chất có thể ứng dụng trong ngành thực phẩm chức năng, dược phẩm hoặc công nghiệp sinh học.

   Hiện Trung Quốc tiêu thụ khoảng 15 triệu tấn đường mỗi năm, trong đó có tới 5 triệu tấn phải nhập khẩu. Việc trồng mía và củ cải đường quy mô lớn đang đặt gánh nặng lên tài nguyên đất và nước, trong khi biến đổi khí hậu và dân số toàn cầu ngày càng tăng khiến áp lực lương thực trở nên nghiêm trọng hơn.

   Do đó, công nghệ sản xuất đường “không cần cây trồng” không chỉ là một thành tựu khoa học mà còn mang ý nghĩa chiến lược dài hạn. Việc tách rời chuỗi sản xuất carbohydrate khỏi cây xanh có thể giúp giải phóng tài nguyên đất, giảm phát thải khí nhà kính và tạo ra một hệ thống thực phẩm linh hoạt, phù hợp với các môi trường khép kín như trạm vũ trụ, tàu thám hiểm không gian hoặc các khu vực khan hiếm tài nguyên nông nghiệp.

   Tại Trung Quốc, ngoài sucrose, các nhà khoa học cũng từng tổng hợp được nhiều loại đường khác nhau (glucose, allulose, mannose…) dưới điều kiện nhiệt độ và áp suất thường, nhờ kết hợp hệ enzyme và xúc tác hóa học. Một hướng đi khác được Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) theo đuổi là chuỗi phản ứng hóa lý chuyển CO₂ thành glucose, hướng đến ứng dụng trong các môi trường biệt lập như sao Hỏa hoặc trạm không gian.

   Dù kết quả nghiên cứu rất hứa hẹn, nhóm nghiên cứu ở Thiên Tân vẫn thừa nhận cần tiếp tục cải tiến hệ thống enzyme, tăng độ bền của thiết bị và xác minh khả năng mở rộng quy mô công nghiệp. Tuy nhiên, các nhà khoa học tin rằng nền tảng ivBT sẽ là tiền đề quan trọng để xây dựng các nhà máy sinh học âm carbon – nơi CO₂ không bị xem là khí thải, mà trở thành nguyên liệu đầu vào cho một nền kinh tế tuần hoàn bền vững.

 

Nguồn: soha.vn/khong-can-mia-hay-cu-cai-trung-quoc-da-tao-ra-duong-trang-tu-loai-khi-thai-khong-ngo-toi-198250716174447643.htm

Hải Dương: Chuẩn bị triển khai dự án xử lý nước thải công nghệ Hà Lan gần 1.500 tỷ đồng

   Sáng 26/5, đồng chí Lưu Văn Bản, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Hải Dương chủ trì cuộc làm việc với đoàn công tác của Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam về việc triển khai Dự án Xây dựng hệ thống thu gom và xử lý nước thải tại khu vực trung tâm TP Chí Linh, thị xã Kinh Môn, các huyện Gia Lộc, Cẩm Giàng, Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

   Tham gia đoàn công tác có ông Willem Timmerman, Bí thư thứ nhất phụ trách lĩnh vực nước và khí hậu, Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam; bà Mai Linh Scholten, Quản lý đầu tư, Chương trình đầu tư công, Tổ chức Invest International; bà Phạm Minh Uyên, Cố vấn chính sách cấp cao, Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam.

 

 

Đại sứ Hà Lan tại Việt Nam

Đại sứ Hà Lan tại Việt Nam

   Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lưu Văn Bản khẳng định đây là dịp để hai bên rà soát tình hình triển khai dự án hợp tác sử dụng viện trợ không hoàn lại từ Chính phủ Hà Lan, là cơ hội quan trọng để làm sâu sắc hơn mối quan hệ đối tác giữa tỉnh Hải Dương và các cơ quan hữu trách của Hà Lan – quốc gia có nền tảng kỹ thuật, kinh nghiệm và công nghệ tiên tiến hàng đầu thế giới trong lĩnh vực xử lý nước và môi trường đô thị.

   Ngay sau khi nhận được Công hàm số HAN/2025/072 ngày 12/5/2025 của Đại sứ quán Hà Lan đề nghị cung cấp hồ sơ dự án, UBND tỉnh Hải Dương đã khẩn trương hoàn thiện và chính thức gửi kế hoạch dự án, dự thảo Thỏa thuận tài trợ và văn bản xác nhận điều kiện tham gia đấu thầu của đơn vị lập báo cáo nghiên cứu khả thi đến Đại sứ quán Hà Lan.

   Sau khi nhận được thỏa thuận tài trợ, tỉnh Hải Dương sẽ tổng hợp ý kiến các bộ, ngành liên quan để hoàn chỉnh báo cáo tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư và ủy quyền UBND tỉnh ký kết thỏa thuận tài trợ theo quy định. UBND tỉnh Hải Dương cam kết sẽ thực hiện đầy đủ, trách nhiệm những công việc thuộc thẩm quyền của tỉnh được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ủy quyền.

   Đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lưu Văn Bản bày tỏ tin tưởng với sự đồng hành và hỗ trợ hiệu quả từ Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan, Tổ chức Invest International và sự nỗ lực của chính quyền cùng người dân tỉnh Hải Dương, dự án sẽ được triển khai bảo đảm tiến độ, góp phần tạo dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững, xanh và hiện đại của địa phương trong tương lai.

Đoàn công tác chụp ảnh kỷ niệm cùng lãnh đạo UBND tỉnh Hải Dương

Đoàn công tác chụp ảnh kỷ niệm cùng lãnh đạo UBND tỉnh Hải Dương

   Trong bối cảnh sắp xếp các bộ ngành, sáp nhập tỉnh, thành phố và chấm dứt hoạt động của cấp huyện, đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lưu Văn Bản khẳng định những việc này sẽ ít ảnh hưởng đến việc triển khai dự án. Tỉnh cam kết sẽ bám sát việc xin ý kiến thẩm định dự án của các bộ ngành để nhanh chóng trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương dự án.

   Dự án đã nằm trong kế hoạch đầu tư công của tỉnh trong giai đoạn 2021 – 2025 và được chuyển tiếp trong giai đoạn 2026 – 2030, đã được bố trí nguồn kinh phí thực hiện. UBND tỉnh Hải Dương cũng đã phân công Ban Quản lý dự án đầu tư tỉnh chịu trách nhiệm triển khai dự án.

   Ông Willem Timmerman, Bí thư thứ nhất phụ trách lĩnh vực nước và khí hậu, Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam bày tỏ niềm tự hào vì luôn đồng hành cùng Chính phủ Việt Nam trong các hoạt động chuyển đổi xanh, phát triển đất nước, trong đó có dự án được triển khai tại Hải Dương. Ông Willem Timmerman đánh giá cao quyết tâm của tỉnh Hải Dương thông qua việc xây dựng lộ trình thực hiện dự án. Đồng thời thông tin chiều cùng ngày, đoàn công tác sẽ làm việc với Bộ Tài chính về việc triển khai dự án tại Hải Dương.

   Bà Mai Linh Scholten cũng đánh giá cao kế hoạch, lộ trình thời gian tỉnh Hải Dương đề ra trong triển khai thực hiện dự án. Bà thông tin cuối tháng 6, Uỷ ban Quỹ đầu tư sẽ họp, đánh giá và đưa ra quyết định tài trợ cho dự án và giữa tháng 6 sẽ gửi dự thảo bản thoả thuận tài trợ cho tỉnh Hải Dương.

   Dự án Xây dựng hệ thống thu gom và xử lý nước thải đô thị sẽ được triển khai tại 5 đô thị gồm: TP Chí Linh (5 phường), Kinh Môn (7 phường), thị trấn Gia Lộc, thị trấn Lai Cách (Cẩm Giàng), thị trấn Nam Sách. Các hạng mục bao gồm xây dựng khoảng 166 km tuyến cống nước thải, gần 9 km tuyến ống áp lực, 9 trạm bơm thoát nước, 5 nhà máy xử lý nước thải tập trung với tổng công suất 21.000 m3/ngày đêm.

   Dự án áp dụng công nghệ bể bùn hạt hiếu khí (AGS) – một công nghệ tiên tiến có ưu điểm về tiết kiệm diện tích, chi phí vận hành thấp và phù hợp với xu hướng sử dụng trí tuệ nhân tạo trong xử lý nước thải.

   Mục tiêu của dự án là thu gom 75% nước thải sinh hoạt và 100% nước thải cơ sở tiểu thủ công nghiệp trong vùng. Nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn trước khi xả. Dự án bảo đảm tiếp cận công bằng cho mọi nhóm dân cư, kể cả hộ nghèo và đối tượng dễ tổn thương. Tổng vốn đầu tư thực hiện dự án là 1.498 tỷ đồng, trong đó vốn đối ứng ngân sách tỉnh là 959,6 tỷ đồng, vốn viện trợ không hoàn lại của Hà Lan là 538,6 tỷ đồng. Dự kiến dự án được bàn giao, đưa vào sử dụng trong tháng 6/2028.

 

Nguồn: baohaiduong.vn/chuan-bi-trien-khai-du-an-xu-ly-nuoc-thai-cong-nghe-ha-lan-gan-1-500-ty-dong-tai-hai-duong-412445.html